Cụ thể như sau: 1
Trong khi đó, câu thơ đúng là “Bay cao bay vút” (từ “bay” chứ không phải “cao”). 6. “Thổi xôi” là gì? Theo tác giả bài báo là một số tía và phụ huynh học sinh không hiểu từ thổi, cần phải mô tả là nấu cơm, nấu xôi. Có những đoạn văn, bài thơ có các câu từ hay, giàu hình ảnh biểu cảm nhưng trong đó có các âm vần khó, trẻ chưa được học thì rất có thể dẫn tới tình trạng trẻ học vẹt mà không đánh vần, không đọc được câu từ.
Những ngữ liệu hay nhưng không hạp quy ước sư phạm thì cũng không thể sử dụng. 5. Thứ này cũng có tranh minh họa rất rõ nét. Bài báo cho rằng các em học sinh chưa có nhiều khái niệm về cuộc sống xung quanh nhưng nội dung lại được đánh đố bằng những câu chữ như “Nhà Dế Mèn ở gần bãi cỏ non, còn nhà Sên thì ở ngay trên tàu lá chuối”.
Các em chưa có khái niệm về chữ hoa thì không nên viết hoa, bởi nếu viết hoa, các em chưa biết mẫu chữ sẽ không đọc được. Lại sách Tiếng Việt lớp 1. ”. Tỉ dụ như “Phố có phở”. Do phải buộc ràng vào quy ước trên, nhiều người có thể thấy không chỉ cuốn Tiếng Việt lớp 1 hiện tại mà những cuốn học vần của các tác giả trước đây cũng đưa vào những ngữ liệu khá ngu ngơ.
Khổ cuối của bài thơ được in là “Bay cao cao vút/ Chim biến mất rồi/ Chỉ còn tiếng hót/ Làm xanh da trời”. Bài học từ cuốn học vần của tác giả Nguyễn Thị Nhất, xuất bản năm 1981-1982 là một thí dụ điển hình cho việc làm trái với quy ước sư phạm. Từ bài 1 đến bài 27 không viết hoa đầu câu và tên người, lý do: lúc này học sinh chưa được học chữ hoa.
Hươu nai là số nhiều “bầy hươu nai”, với nghĩa chỉ giống loài, nên không viết hoa. Ban biên tập đáp sách viết như vậy là hợp lý. Ban biên tập có quan điểm: thổi là một động từ rất quen thuộc với người VN. Thí dụ nữa, tác giả bài báo nêu trang 115 “Trai gái bản mường cùng vui vào hội”. Mà đã học trêu thì trẻ chẳng thể nào biết chữ được. Thí dụ được dẫn ra ở trang 87: “Buổi trưa, Cừu chạy theo mẹ ra bờ suối.
Khi nhận ra bất cập này, Bộ GD-ĐT đã yêu cầu chỉnh lý cuốn học vần trên. 4. Trang cuối sách người biên soạn có chú thích điều ấy với tính chất xin phép các nhà văn, thi sĩ như sau: “Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1 đã trích nguyên văn hoặc có biên tập cho ăn nhập với đề nghị từng loại bài học - tác phẩm của các tác giả sau đây: Võ Thanh An, Hoàng Minh Châu, Định Hải, Xuân Hoài, Phạm Hổ, Ngô Văn Phú, Đỗ Trung Quân, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Hoàng Sơn, Trần Hồng Thắng, Lê Xuân Thọ, Tạ Hữu Yên
Chúng tôi mong các bậc phụ huynh và bạn đọc chia sẻ khó khăn của những người soạn sách trong việc chọn ngữ liệu đưa vào sách học vần. VĨNH HÀ ghi * TS Lê Hữu Tỉnh ( nguyên phó tổng biên tập NXB Giáo Dục ): Cần tuân quy ước sư phạm Người dự soạn sách học vần cho trẻ em đều phải biết khi đưa ngữ liệu vào sách học vần thì phải tuân thủ quy ước sư phạm là chỉ đưa những ngữ liệu có âm vần mà trẻ đã được học, theo thứ tự từ dễ đến khó.
Lý do: Cừu là số ít, được hiểu là tên một nhân vật. Về mực tàu “y tế xã”, theo tác giả bài báo là chưa đủ thành phần cần phải viết đủ là “trạm y tế xã”, ban biên tập đã soát và thấy rằng: Dù cụm từ có bị lược bỏ thành phần, nhưng theo cách nói thông dụng, học trò vẫn có thể hiểu được.
Viết như thế rất dễ khiến học sinh nhầm “Sên” là tên người, nếu không nhìn bức tranh minh họa ở trên.
Nó thấy bầy hươu nai đã ở đấy rồi. Tự điển Tiếng Việt 2010 của Hoàng Phê (NXB Đà Nẵng) trang 1223 có viết: “Thổi: Động từ [ph] nấu [cơm, xôi]. Trân trọng cảm ơn các tác giả”. Cuốn sách học vần chỉnh lý do tác giả Trịnh Mạnh và Trần Mạnh Hưởng đã khắc phục được những bất cập trên và cuốn này được dùng cho tới khi ta thay chương trình - sách giáo khoa mới. Nếu thêm từ cho đủ thành phần mực tàu, học sinh lại không đọc được, vì giai đoạn này, các em chưa được học vần am (trạm).
Bài báo nói từ bài 28 trở đi việc viết hoa không nhất quán. Tác giả bài báo cho rằng phải viết hoa chữ mường. Thêm nữa, để hiểu nội dung câu văn này, học trò đã có tranh minh họa màu, rất rõ nét ngay ở bên trên câu văn.
Cuốn học vần này đưa vào những ngữ liệu hay, như câu thơ “Long lanh đáy nước in trời” (Truyện Kiều) nhưng do trẻ chưa được học âm vần trong câu thơ nên chỉ học trêu chọc theo tranh. Vì mục đích của sách học vần là dạy trẻ học đọc, viết chữ. Ban biên tập có quan điểm trả lời: giai đoạn này học trò chưa được học vần “ôc” nên chưa thể đưa chữ ốc.
HCM ). Thí dụ: thổi cơm, thổi xôi”. Câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân, chữ “Tuổi thơ” trong nguyên tác được sửa thành chữ “Chiều chiều” như văn bản in trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1, là do câu thơ đã được “biên tập” lại cho phù hợp với nội dung bài học. Ban biên tập đáp: bản và mường đều là cách gọi những cộng đồng dân cư ở miền núi, rưa rứa thôn trang ở miền xuôi.
3. 2. Sách Tiếng Việt lớp 1, tập 1, NXB Giáo Dục, tháng 5-2012 có in bài thơ Con chim chiền chiện của Huy Cận. “Sạn” trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 “Sạn” trong sách giáo khoa: nhặt ngay kẻo hỏng học sinh! Thổi xôi là gì? Ông Tùng đã giải đáp chi tiết về những “hạt sạn” mà độc giả “nhặt” ra trên các số báo ngày 11-10 và 14-10. TRẦN VĂN TÁM ( Trường TH Trung Lập Hạ, Củ Chi, TP.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét