Cho nên, nếu bỏ khu vực FDI sang một bên và chỉ phân tích ba khu vực còn lại thì nền kinh tế Việt Nam sẽ bi đát hơn nhiều, mà duyên do cốt là do ta chứ không phải do tác động từ bên ngoài
Chỉ có một ngoại lệ là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đang ăn nên làm ra, do họ đã tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam và miễn nhiễm được với những tác động thụ động. Hậu quả là khu vực sản xuất trong nước trở nên thua kém tranh hơn. Những cơ hội đã không được tận dụng, trong khi rối rắm ngày một nhiều hơn và để lại hậu quả ngày bữa nay.
Hoài vọng và khả năng giàu nhanh chóng mà không phải làm gì đã “thực tại hơn” đối với nhiều người. Vì vậy, thắt chặt tín dụng để buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại có nhẽ là giải pháp. Giá các doanh nghiệp tận dụng tốt nhịp mở cửa, nối tập trung vào hoạt động sản xuất kinh dinh tạo ra sản phẩm thì kỳ vọng sẽ thành hiện thực.
Từ những mức lương không đến nỗi nào trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh trước đây, nhiều người đã có được những mức lương hay thu nhập chỉ mộng mị mới thấy. Trước hết phải kể đến sự thụ động trong việc đối phó với dòng vốn đồ sộ từ bên ngoài đổ vào Việt Nam trong năm 2007.
Kỳ vọng quá mức và thay đổi hành vi Trước khi nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã đạt được những sự cải thiện đáng kể, nhất là sau khi hiệp nghị thương nghiệp Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết và có hiệu lực từ năm 2001.
Thêm dầu vào lửa Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã bị nhiễm “căn bệnh Hà Lan” (Dutch Disease) mà nó được hiểu là dòng vốn lớn chảy vào làm ruộng tiền trong nước lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước trở thành đắt đỏ hơn so với hàng hóa của các nước khác. Những người kinh doanh bất cẩn sẽ phải tay trắng, để những người có khả năng hơn tiếp quản và sử dụng các nguồn lực của từng lớp hiệu quả hơn - đây chính là triết lý căn bản của phá sản, hay sự phá hủy sáng tạo.
Hậu quả là kinh tế Việt Nam nối khó khăn. Một trong những vấn đề chính là khu vực trong nước đã tự việc tận dụng lợi thế, tập hợp cho sản xuất kinh doanh sang đầu cơ tài sản trong bối cảnh “căn bệnh Hà Lan” đã làm tổn hại nghiêm trọng sức cạnh tranh của khu vực sản xuất. Nếu đấu tụ họp vào hoạt động kinh doanh ngày nay thì suất sinh lợi chỉ là hàng chục phần trăm, trong khi đầu tư vào các tài sản (cổ phiếu và bất động sản) thì con số có thể là hàng trăm, thậm chí hàng nghìn phần trăm.
Một số người, trên thực tế, đã có được mức sinh lợi này Khó có ai có thể cưỡng lại cám dỗ. Sự chuyển hướng nhất tề đã tạo ra cầu đột biến cả về hàng hóa và nguồn nhân công trong khu vực tài sản.
Nhiều doanh nghiệp đang rơi vào tình thế lui tới lưỡng nan. Điều này có nghĩa rằng, nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ “nở ra” mau chóng, trong một ngày mai thấy trước. Những khoản tiết kiệm trong nước được mang ra cùng với một dòng vốn khổng lồ chảy vào Việt Nam đón đầu nhịp.
Trong cảnh ngộ bây giờ, nếu tiếp kiến bơm tiền thì nhiều người vẫn có cơ hội níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh doanh chủ yếu có hiệu quả của mình. Chỉ trong mấy tháng, chỉ số chứng khoán VN-Index đã tăng gần bốn lần và trong vòng hơn một năm, giá bất động sản cũng có mức tăng hao hao.
Những lợi thế đã được phát huy, xuất khẩu gia tăng mạnh, nhất là những mặt hàng liên can đến nông nghiệp và thủy sản hoặc thâm dụng cần lao như da giày và dệt may.
Giá cổ phiếu và bất động sản tăng là thật, và lãi là thật. Lấy lý do đối phó với khủng hoảng tài chính thế giới và suy giảm sinh sản kinh doanh trong nước, chính sách tiền tệ đã tiếp kiến được nới lỏng.
Hậu quả là nhiều người trở thành “lười hơn”, chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, chứ không còn chí thú làm ăn như trước. Hơn thế, còn một vấn đề rối rắm nữa là không đơn giản để một số người đã quen với mức thu nhập cao chuyển sang từ bỏ những hoạt động đầu cơ tài sản để quay lại các hoạt động sản xuất kinh dinh, với mức thu nhập thấp hơn nhiều. Ngược lại, sau khi nhập WTO, nhiều doanh nghiệp và cá nhân chủ nghĩa đã quay sang đầu cơ tài sản, bỏ bê các hoạt động sinh sản kinh doanh chính, dẫn đến thua lỗ và nợ xấu tăng cao.
Tuy nhiên, người viết cho rằng những rắc rối giờ của Việt Nam cốt yếu là do những vấn đề nội tại chứ không phải tác động từ bên ngoài. Lạm phát bắt đầu phi mã từ cuối năm 2007 và chạm mốc gần 30% vào cuối quý 1/2008. Khi nhập WTO, hầu hết người dân Việt Nam cũng như nhiều nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng các dịp sẽ được hiện thực hóa và Việt Nam sẽ có được tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan hơn.
Nếu buông các hoạt động đầu cơ để tụ họp vào hoạt động kinh doanh then chốt (thí dụ dịch vụ taxi chẳng hạn) thì sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội.
Việc “cố gắng” ổn định tỷ giá trong bối cảnh lạm phát cao như cú đánh kép vào khu vực sản xuất trong nước. Cố nhiên, đây chỉ là giải pháp cho vấn đề này và Việt Nam cần tiến hành ngay một sự cải cách sâu rộng, toàn diện và bản tính.
Hậu quả là nền kinh tế bị “ngập lụt” tiền đồng. Một nghiên cứu gần đây của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright chỉ ra rằng, ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng Việt Nam gồm: khu vực kinh tế quốc gia, khu vực kinh tế tư doanh và khu vực nông nghiệp đang gặp trục trặc.
Tuy nhiên, điều không may là hành vi của các doanh nghiệp và nhà đầu tư đã thay đổi. Tiến thoái lưỡng nan Trước khi nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã chí thú làm ăn, tận dụng được lợi thế của Việt Nam để tập kết vào các hoạt động sản xuất kinh dinh tạo ra của cải cho tầng lớp.
Hơn thế, "căn bệnh Hà Lan" đã làm cho sinh sản trong nước thua kém tranh hơn nên có muốn thì cũng khó mà mở mang hoạt động. Việc kiếm tiền quá dễ dàng làm cho việc trả lương và ăn xài trở nên hào phóng hơn. Tuy nhiên, khi đó phần mất từ hoạt động đầu cơ sẽ cao hơn rất nhiều phần được từ hoạt động kinh dinh, và chủ doanh nghiệp có khả năng sẽ trắng tay.
Một người đã khẳng định được danh tiếng trong ngành tài chính cho rằng có khi Việt Nam phải mất cả một thế hệ nhà buôn nữa hoạ may mới làm lại được.
Trong hoàn cảnh bây chừ, nếu nối bơm tiền thì nhiều người vẫn có cơ hội níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh dinh đẵn có hiệu quả của mình.
Thay vì tiếp tục giao hội các các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của nả cho tầng lớp, nhiều người đã “nhảy” vào chứng khoán và bất động sản, mà nói chính xác là đi đầu cơ tài sản. Lúc này mọi người chỉ tụ tập vào việc mua mua - bán bán, chứ không còn “chí thú làm ăn” như trước đây. Lúc bấy giờ, tuồng như ngân hàng Nhà nước chỉ chú trọng làm một việc độc nhất vô nhị là tung tiền đồng ra để mua USD mà “quên” mất các giải pháp trung hòa.
Kết quả là các doanh nghiệp ăn nên làm ra, tăng trưởng kinh tế cao và tạo tâm lý lạc quan, hồ hởi cho toàn từng lớp. Kinh tế sẽ tăng trưởng cao hơn và giá trị chứng khoán và bất động sản tăng chóng mặt nêu trên sẽ trở nên hợp lý sau một thời kì.
Đây chính là nền móng tạo ra mức tăng trưởng kinh tế 7-8% cho Việt Nam.
Bởi thế, không có gì ngạc nhiên khi mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khốn khó trong hoạt động sản xuất kinh dinh buộc phải đóng cửa hay phá sản trong thời gian gần đây, cho dù họ không hề có những hoạt động đầu cơ tài sản.
Hơn thế, việc cho phép sở hữu các nhà băng quá dễ dàng và thất thoát trong đầu tư và ăn xài công do tham nhũng đã làm tăng tính “liều mạng” đầu cơ vào các tài sản. Trong gian đoạn 2006-2012, mức giá chung của cả nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi, tỷ giá tiền đồng so với USD chỉ tăng 30% đã làm cho các sản phẩm nhập vào Việt Nam (máy tính, điện thoại của Apple chẳng hạn) rẻ hơn, trong khi gạo hay các sản phẩm khác của ta đắt đỏ hơn.
Vì vậy, hành vi hợp lý của nhiều doanh nghiệp là tiếp tục tụ tập nguồn lực để duy trì các hoạt động có tính đầu cơ với hy vọng thị trường tài sản sẽ “nóng” trong mai sau để không chỉ tránh được tán gia bại sản mà còn có cơ hội làm giàu trở lại. Nhiều doanh nghiệp, nhất là khu vực tư doanh sau sự cởi mở của Luật Doanh nghiệp năm 2000, hội tụ vào hoạt động sinh sản kinh dinh tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ thực cho từng lớp đã ăn nên làm ra với suất sinh lợi khá cao (vài chục phần trăm).
Việc thắt chặt tiền tệ để kìm nén lạm phát chỉ được thực hành trong một thời gian ngắn. Nghiêm trọng ở chỗ là sự bất hợp lý trong các chính sách vĩ mô trong thời gian qua đã làm cho căn bệnh này trở nên trầm trọng hơn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét